2 thg 4, 2012

Tiểu Sử Chị Cả Tâm Chánh_Hoàng Thị Kim Cúc

Tiểu Sử Chị Cả Tâm Chánh_Hoàng Thị Kim Cúc

Tiểu Sử Chị Cả Tâm Chánh_Hoàng Thị Kim Cúc


Chị Hoàng Thị Kim Cúc, pháp danh Tâm Chánh, tự Thể Hạnh, sinh ngày mồng 8 tháng 11 năm Quý Sửu (5/2/1913).
Thân phụ là cụ ông Hoàng Phùng, thân mẫu là cụ bà Tôn Nữ Thị Khuê. Chánh quán làng Xuân Tùy, Thừa Thiên. Trú quán tại thôn Vỹ Dạ, thành phố Huế.

Buổi thiếu thời sau những năm theo chân Thầy Mẹ công tác ở một số Tỉnh đàng trong, học xong bậc sơ học và tiểu học, sau về Huế học trường Đồng Khánh hết cấp trung học rồi tiếp tục giảng dạy tại đây cho đến ngày về hưu.

Vốn sinh ra và lớn lên trong một gia đình truyền thống Nho phong cao quý, lại được nung đúc với niềm tin Phật rạt rào và sâu sắc, chị Hoàng Thị Kim Cúc trong khoảng thời gian trưởng thành gần 50 năm đã trọn vẹn đem hết tâm hồn, tình cảm và ý chí phục vụ cho lợi ích của mọi người, nhất là đối với giới trẻ trong bao cảnh giao động của đất nước vào những năm trước mùa thu 1945 và mãi cho đến tận bây giờ.


Xin ôn lại vài nét về bối cảnh lịch sử liên quan đến GĐPT chúng ta.



Tháng 8/1938, ngày 14, Đại hội đồng Tổng Hội An Nam Phật học họp tại ngôi chùa lịch sử Từ Đàm, Huế, một Phật sự trọng đại đến với chúng ta. Tổng hội đồng đặt nặng vấn đề giáo dục tuổi trẻ Phật giáo như sau : "KHÔNG CÓ MỘT THÀNH TỰU NÀO MIÊN TRƯỜNG MÀ KHÔNG NHẮM ĐẾN HÀNG NGŨ THANH THIẾU NHI. HỌ LÀ NHỮNG NGƯỜI KẾ THỪA CHÚNG TA TRONG NGÀY MAI".


Ngày 28/8 năm ấy, một tiểu ban thống thuộc Tổng trị sự đề cử 3 vị đứng ra lo về Thanh Thiếu Nhi được hình thành để thực hiện quyết định này gồm ba vị ; cụ Trần Đăng Khoa, Chủ tịch; cụ Nguyễn Khoa Toàn và bà Cao Xuân Sang (tức Sư Bà Diệu Không) làm Ủy viên. Nguồn gốc GĐPTVN là ở đó.


Thể hiện tinh thần ấy, các đoàn Phật học Đức Dục, Gia Đình Phật Hóa Phổ, Ban Đồng Ấu Phật Tử tùy căn cơ và môi trường đã ra đời như chúng ta đã học tập. Chưa kịp mọc lông cánh thì chiến tranh Việt - Pháp bùng nổ, dân chúng Huế ào ạt tản cư theo lệnh kháng chiến. Cơn gió lốc đầu tiên lay chuyển một tổ chức đang còn non yếu. Sau khi hồi cư, nhìn cảnh vật điêu tàn, nhà cửa đổ nát, lòng người trong cuộc đổi thay của một chế độ làm sao tránh khỏi những thay đổi xé lòng. Cái khung cảnh và tâm lý ấy chấn động tâm hồn một thanh nữ xứ Huế vốn giàu tình cảm vị tha. Chị Kim Cúc đến với GĐPT Hướng Thiện là một ngã rẻ cho cuộc đời của mình. Điều ấy không có gì lạ.


Năm 1946, sau khi hồi cư, các Thầy, các anh chị đã từng sinh hoạt trong đoàn Phật học Đức Dục, Gia Đình Phật hóa Phổ, Đồng Ấu Phật tử như chú Minh Châu, các anh Võ Đình Cường, Nguyễn Khoa Việt, Tráng Thông, Phan Cảnh Tuân, nhen nhúm lại phong trào Gia Đình Phật Hóa Phổ. Cũng trong năm ấy, chị Hoàng Thị Kim Cúc do sự giới thiệu của anh Phan Cảnh Tuân rón rén bước vào Gia Đình Phật Hóa Phổ Hướng Thiện. Đến với gia đình Hướng Thiện, chị chỉ đóng vai trò bạn đoàn, đó là biểu hiện sự thận trọng cần có trước sự giao thoa của thời cuộc. Chú Minh Châu lúc ấy nhận xét chị rất lanh lợi, mẫn tiệp, lãnh hội rất nhanh, rất sâu sắc về Phật Pháp. Sư Bà Diệu Không thường khen ngợi chị là người có thiện căn, có đạo hạnh và tích cực.


Năm 1948, lúc chị 35 tuổi, chị quyết định chính thức gia nhập vào Gia đình Phật Hóa Phổ sau 2 năm tập sự với tính cách bạn đoàn. Chúng ta thấy rằng đó là một sự lựa chọn dứt khoát có đắn đo suy nghĩ như quyết định của một hành giả khi nhận lãnh một công án gồm 6 chữ Gia Đình Phật Tử Việt Nam . Cũng như hành giả quyết tâm sống với công án của mình. Chúng ta đã thấy rằng chị Hoàng Thị Kim Cúc không rời khỏi công án của mình trọn cả cuộc đời của chị.


Trước khi quyết định chọn con đường đi cho mình, chị Tâm Chánh đã có lần xin xuất gia. Sư cụ Diệu Hương cho pháp hiệu Thể Hạnh. Đó là pháp hiệu Bồ Tát tại gia của chị khi vâng theo lời phân tích của Sư Bà Diệu Không về tánh và tướng. Sư Bà dạy: "Lúc này Phật giáo đang cần những Huynh Trưởng dạy dỗ đàn em, nối nghiệp tương lai. Đào luyện được một Huynh Trưởng thì khó nhưng tìm một vị xuất gia thì không khó lắm". Thế là thân tại gia mà tâm của chị thì xuất gia từ lâu rồi. Do đó, chị đã kết hợp rất sâu sắc Đạo và Đời.


Về đời, chị đã nhận lãnh một việc làm rất khiêm tốn: Giáo sư Nữ Công gia chánh tại trường Đồng Khánh, Huế. Nghe thì rất khiêm tốn, nhưng về lãnh vực tinh thần thì rất trọng đại, giúp cho hàng hàng lớp lớp thiếu nữ Việt Nam hoàn thành thiên chức làm chị, làm vợ, làm mẹ, điều hành công việc gia đình đúng với truyền thống dân tộc và đạo pháp. Đó là bài học đầu tiên nhất mà ngành Nữ GĐPTVN phải nhận lãnh ở nơi người chị yếu đuối về thể xác nhưng dũng mãnh ở tinh thần.


Nhìn lại cuộc đời của chị, chúng ta chiêm nghiệm chị Kim Cúc thể hiện như thế nào cái công án mà chị đã nhận lãnh.


1/ Bước đầu tiên là chị thành lập Đoàn Nữ Phật tử Hương Trang (12/1948). Đem đạo vào đời không thể không nghĩ đến Nữ giới. Truyền thống dân tộc đã ghi đậm nét về người nữ, gia đình là cái nôi của xã hội, người phụ nữ chiếm vị trí quan trọng: dạy dỗ con cái nên người, điều hòa kinh tế gia đình, giữ gìn hạnh phúc, đem Phật pháp vào xã hội nếu không nhắm vào người phụ nữ trong gia đình thì còn ai ? Khi chọn ngành giáo dục Nữ Công gia chánh làm sự nghiệp cho mình. Chị Cúc của chúng ta tất nhiên đã mang chí nguyện đem đạo vào đời.


2/ Trong thời gian làm Trưởng ban Hướng Dẫn Thừa Thiên và Tổng hội Phật giáo Trung phần (từ 1958 - 1964), điều quan tâm nhất của chị là vấn đề huấn luyện Huynh Trưởng. Chị mở các trại huấn luyện toàn quốc, các trại huấn luyện cấp Tỉnh khắp 34 Tỉnh miền Trung và miền Nam. Chúng ta không quên trại huấn luyện Huynh Trưởng ngành Nữ đầu tiên tại chùa Phước Hải, Sài Gòn cho các tỉnh miền Nam (1964).


Năm 1964, sau khi GĐPTVN thống nhất toàn quốc, chị được bầu vào Ban lãnh đạo GĐPTTƯ. Với chức vụ Phó Trưởng Ban Hướng Dẫn phụ trách ngành nữ toàn quốc - một công tác vô cùng trọng đại và khó khăn đối với chị vì tuổi ngày càng cao, sức khỏe yếu kém dần, lại thường xuyên ở Huế khó lòng điều hành việc chỉ đạo Trung Ương. Ngại rằng không chu toàn nhiệm vụ, cho nên năm 1965 chị có thư xin Trung Ương thay người khác nhưng không được chấp thuận cho nên chị phải đơn phương gánh vác trách nhiệm, bao nhiêu thì giờ nghỉ ngơi trong các dịp lễ lớn và toàn bộ thời gian nghỉ hè chị phải tập trung làm việc không ngơi, từ công tác tổ chức, thăm viếng, dự và mở các trại huấn luyện trên toàn quốc.


Sau khi GĐPTVN được thống nhất thật sự (1964), với tư cách Phó Trưởng Ban Hướng Dẫn Trung Ương phụ trách ngành Nữ, chị luôn ưu tư về vấn đề tách rời sinh hoạt 2 ngành Nam Nữ. Từ đó chúng ta thấy rằng yếu tố sinh hoạt riêng biệt 2 ngành Nam Nữ chiếm một phần quan trọng trong công án GĐPT của chị Cúc. Chúng ta không quên những lời lẽ đanh thép trong các kỳ đại hội toàn quốc hay toàn phần khi đề cập đến sự cần thiết của sự tách biệt ấy. Có lúc chị đã khổ tâm rất nhiều khi phải chiến đấu, không phải với ngành Nam mà chiến đấu với sự tự ti, ỷ lại, giao khoán của chính chị em trong ngành Nữ. Một thành quả mà chị em ngành Nữ phải hãnh diện là Đại hội ngành Nữ toàn quốc tại Nha Trang năm 1969. Quả thật một ý thức vùng lên của ngành Nữ: tự tổ chức, tự điều hành, tự đặt vấn đề và giải quyết vấn đề trong tinh thần tự lập hoàn toàn. Nhắc đến đời chị, nhắc đến sự nghiệp và công hạnh của chị mà không nhắc đến sinh hoạt riêng biệt ngành Nữ là cả một thiếu sót lớn.


3/ Chị là người tiên phong đứng trên ngọn gió đầu sóng. Điều này được thể hiện tại Huế và Thừa Thiên. GĐPT chúng ta phải trải qua với nhiều cơn gió lốc lúc tàn bạo lúc âm ỉ vì sự bất bình đẳng tôn giáo của thế quyền. Lúc ấy, không một huynh trưởng nam nào có uy thế mà được tự do hoạt động nhất là sau vụ tàn sát huynh trưởng Phan Duy Trinh tại vùng Kim Long, Huế. Thân gái dặm trường, chị phải đứng ra đương đầu. Trong trường hợp tương tự, GĐPT Gia Định không quên lời chị phát biểu trong lễ Hiệp Kỵ 1980 tại Già Lam Và các GĐPT miền Nam lại càng thấm thía chuyến thăm viếng của chị vào năm 1985. Chúng ta rất đau buồn khi nghĩ rằng chị mất đi là chúng ta mất một điểm tựa trong sóng gió ba đào.


4/ Chị đã sinh hoạt với cả con tim nóng hổi của mình, chị là gạch nối giữa anh chị em, chị đem lại hòa khí mỗi khi có bất hòa trong anh em. Chị chăm sóc đời sống của anh chị em huynh trưởng cũng như lo lắng cho chính đời sống của mình. Ai đau ốm, ai hoạn nạn, ai bệnh tật, ai gặp ngang trái là có chị đến, đến với tấm lòng một người chị, người mẹ.


Trong những năm đời sống kinh tế trở nên bi đát, khó khăn (sau 1975), từ Huế chị đã vào Sài Gòn khuyên nhủ anh chị em thành lập tổ hợp cùng giúp nhau sống qua ngày. Thưa chị, ai là người có đủ mãnh lực thay thế chị bây giờ đây ?


5/ Chị Cúc không ngồi một chỗ để điều khiển. Lúc còn là Trưởng ban Hướng Dẫn Trung Phần, nhiều cuộc thăm viếng các Tỉnh đã đưa chị từ miền Trung đến cả cao nguyên Trung Phần đèo heo hút gió. Sau khi thống nhất GĐPTVN năm 1964, với tư cách Phó Trưởng ban Hướng dẫn Trung Ương ngành Nữ, chị đã tổ chức các trại huấn luyện huynh trưởng, thăm viếng các tỉnh miền Nam, dự các trại họp bạn ngành Nữ của Sài Gòn, dự ngày Hạnh ngành Nữ của Gia Định, dự cuộc họp mặt tại Vĩnh Nghiêm.


Mùa hè năm 1974, vượt qua mọi khó khăn trắc trở, chị quyết tâm thực hiện một hành trình dài với chủ đích thăm viếng, chấn chỉnh tổ chức hay mở các lớp huấn luyện tùy theo yêu cầu của địa phương. Chị đích thân lãnh đạo đoàn huynh trưởng Trung Ương bắt đầu rời Huế ngày 10/06/1974 sinh hoạt trong 45 tỉnh, thành: Quảng Trị, Thừa Thiên, Đà Nẵng, Quảng Nam, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Bồng Sơn, Quy Nhơn, Tuy Hòa, Nha Trang, Phan Rang, Phan Thiết, Lâm Đồng, Đà Lạt, Di Linh, Buôn Mê Thuột, Pleiku, Phú Bổn, Kon Tum, Đến Kon Tum xem như đã hoàn thành tương đối tốt đẹp kế hoạch thăm viếng miền Trung, củng cố các sinh hoạt ngành Nữ GĐPT cả 3 ngành. Chị lại chuẩn bị kế hoạch vào Nam .


Tại miền Nam, GĐPT bấy giờ đã được thành lập khắp nơi nhưng mọi sinh hoạt vẫn còn mới mẻ, cần uốn nắn nhiều điểm nhất là vấn đề ổn định tổ chức về cả hai mặt nhân sự, bộ khung huynh trưởng các ngành, vấn đề huấn luyện huynh trưởng về mặt chuyên môn và trau dồi kiến thức Phật pháp. Chuyến đi Nam này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong lịch sử phát triển GĐPTVN đến tận các miền xa xôi - nơi mà cuộc sống tinh thần của quần chúng vốn chịu ảnh hưởng sâu nặng các trào lưu tín ngưỡng pha tạp.


Chị đã đặt chân đến hầu hết các tỉnh miền Nam : Sóc Trăng, Cần Thơ, Sa Đéc, Vĩnh Long, Long An, Vũng Tàu, Hậu Nghĩa, Tây Ninh, Bạc Liêu, Cà Mau, Rạch Giá, Long Khánh, Vĩnh Bình, Gia Định, Sài Gòn cho đến tỉnh Phước Long biên ải.


Cuộc thăm viếng cuối cùng là một cuộc thăm viếng lịch sử. Năm 1986, một cuộc thăm viếng không kèn, không trống, không tiền hô hậu ủng, không cờ xí rợp trời, không có cả văn nghệ chào mừng nhưng là một cuộc thăm viếng đầy xúc cảm, đầy nước mắt và tình thương, trải qua những quãng đường gồ ghề lồi lõm tại các vùng kinh tế mới: Suối Nghệ, Ngãi Giao, Bình Ba, Quảng Thành, Kim Long, Quảng Phú, Bảo Lộc, Đà Lạt, Đơn Dương, Long Khánh, cho đến cả Phước Long điêu tàn. Chị đi sâu vào tận các gia đình để khuyên răn, để khích lệ. Cảm động nhất là chị đã đích thân đến thăm gia đình một đạo hữu ở Suối Nghệ đã cưu mang, nuôi nấng một huynh trưởng bị bệnh nan y - người đã có công tạc tượng đức Quan Âm tôn trí tại trại trường GĐPTVN ở Đà Lạt.


Mỗi nơi chị đến là sự sinh hoạt vươn lên, nhìn tấm thân già yếu, mái tóc bạc, hàm răng rụng của cái tuổi 73, không một huynh trưởng nào, không một đoàn sinh nào, không một phụ huynh nào đã gặp chị mà không nhìn thấy một tấm gương sáng. Con tim của chị sưởi ấm những ai chần chờ dừng bước. Trái tim của chị là trái tim mặt trời chiếu rọi muôn vạn trái tim nhà Lam khiến cho ai nấy đứng lên bước tới.


Biết rằng những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời mình sắp đến, chị muốn thực hiện một chuyến đi nữa với các địa điểm được dự tính: dự trại Hạnh tại Suối Nghệ, thăm vùng kinh tế mới tại Xuyên Mộc, Trị An, Xuân Sơn, Hòa Bình, Cam Ranh, Nha Trang, Phan Rang, dự hiệp kỵ Đà Lạt, nhưng nhân duyên thăm viếng đã hết.


Ngày chung thất anh Lữ Hồ là ngày gặp gỡ cuối cùng giữa chị với anh chị em lâu năm có mặt tại Sài Gòn. Ngôi nhà cuối cùng mà chị đặt chân đến là nhà hai vợ chồng huynh trưởng Nguyễn Khắc Mão và chị Nguyễn Thị Thông, một chị trưởng lâu năm mà chị Cúc rất thương mến.


Cả cuộc đời của chị, cả tâm niệm của chị là muốn cho anh chị em nhà Lam keo sơn gắn bó, càng gặp khó khăn càng keo sơn, càng gắn bó. Chị đã dùng thân xác của chị để thể hiện lần cuối cùng công án của chị. Lúc 11 giờ ngày 30/06 Mậu Thìn tức ngày 11/08/1988, một tai nạn lưu thông không ly kỳ, không rùng rợn đã đưa chị vào bệnh viện Chợ Rẫy. Chị nằm bất động không đau đớn, không rên la, im lặng. Nhưng cũng từ giờ phút đó chuyển động cả một sức mạnh - sức mạnh tình Lam. Phòng hồi sức sau khi giải phẫu sọ não tràn ngập những cánh Lam, không nói năng nhiều chỉ với cái bắt tay nồng nhiệt khác hơn ngày thường, chỉ với cái nhìn nhau đượm vẻ lo âu, chị đang tạo dựng một sức ấm từ lâu có phần nguội lạnh.


Tin được truyền đi: Đà Lạt, Bảo Lộc, Phan Rang, Cần Thơ, Phước Long, Long Khánh, Suối Nghệ, đã cử người về chăm sóc chị, 45 ngày tại Sài Gòn là 45 ngày quây quần bên chị. Bệnh tình khá hơn, chị được đưa về Huế. Tình Lam chuyển động về cố đô - cái nôi của GĐPTVN. Quảng Trị, Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Tín, Bình Định đã hợp tác với Thừa Thiên thay thế Sài Gòn như một cuộc giao ban của tình Lam.


Nhân duyên ở cõi ta bà đã hết. Vào lúc 12 giờ ngày 27 tháng Chạp năm Mậu Thìn tức ngày 03/02/1989, chị trả thân tứ đại lại cho đất, nước, gió, lửa.


Có những cái chết nảy mầm cho sự sống. Sự ra đi của chị phải có tác dụng như thế.


Thưa chị Nữ huynh trưởng cấp Dũng Hoàng Thị Kim Cúc, không ai dám kết luận về cuộc đời GĐPT của chị. Chúng em nghĩ rằng khi nằm xuống, chị đã trao lại công án GĐPTVN cho chúng em, những người còn lại.
Mỗi huynh trưởng nam cũng như nữ từ trong quả tim nóng hổi của mình, tự tìm lời kết luận về chị và cho cả chính bản thân mình.


Ai trong chúng ta không là một Tâm Chánh Hoàng Thị Kim Cúc ?

Tiểu sử bác Tâm Minh Lê Đình Thám

Tiểu sử bác Tâm Minh Lê Đình Thám

Tiểu sử bác Tâm Minh Lê Đình Thám
Tiểu sử bác Tâm Minh Lê Đình Thám
Cụ Lê Đình Thám quê ở Đông Mỹ huyện Điện Bàn tỉnh Quảng Nam, sinh năm Đinh Dậu 1897. Lúc thiếu thời cụ cùng người anh ruột của mình là Lê Đình Dương theo thân sinh học Nho Giáo. Lớn lên cả hai anh em lại cùng theo tân học
Năm 1916 đậu thủ khoa bằng Đông Dương Y Sĩ tại trường Cao đẳng Y Khoa đông Dương Hà Nội.
Năm 1919 đậu bằng Y Khoa Bác Sĩ ngạch Pháp, từ đó cụ được bổ nhiệm giữ các nhiệm sở Y Tế tỉnh Bình Thuận, Sông Cầu, Quy Nhơn , Tuy Hòa.
Năm 1926 cụ được chuyển về Hội An. Ở đây nhân chuyến đi thăm chùa Non Nước ở Đà Nẵng cụ đã đọc được bài kệ của Lục tổ Huệ Năng trên vách chùa và chính bài kệ này đã làm cho Cụ chú ý đến Phật Giáo. Trong thời gian này vì đứng ra tổ chức lễ truy điệu và thọ tang cụ Phan Châu Trinh nên Cụ bị đổi ra Hà Tỉnh.
Năm 1928 được chuyển về Huế. Với chức vụ Y sĩ trưởng Viện bào chế và vi trùng học Louis Pasteur, Cụ cộng tác với bác sĩ Normet-Giám đốc y tế miền Trung, phát minh được một số dược phẩm có gía trị. Cũng trong Năm 1928 nhân chuyến đi thăm chùa Trúc Lâm, yết kiến Hòa Thượng Giác Tiên, được Hòa Thượng giảng giải, sau đó Cụ phát bồ đề tâm quy y Tam bảo, nguyện phụng hành, truyền bá Phật Pháp và từ đó Cụ có Pháp danh Tâm Minh, Pháp tự Châu Hải.
Năm 1932 vâng lời chư  Đại lão Hòa Thượng Phước Huệ, Giác Tiên, Giác Nhiên, Tịnh Hạnh, Tịnh Khiết, Cụ đứng ra triệu tập 18 vị đồng lữ thảo điều lệ xin thành lập HỘI AN NAM PHẬT HỌC.
Năm 1933 Cụ phụ trách Y sĩ giám đốc Bệnh viện Bài Lao Huế, vào thời điểm ấy Cụ là một danh y uy tín và tiếng tăm nhất tại cố đô Huế. 
Về công tác Phật sự Cụ đã :
·         Khởi công trùng tu Tổ đình Từ Đàm làm trụ sở trung ương của Hội An Nam Phật Học.
·         Xuất bản NGUYỆT SAN VIÊN ÂM do Cụ làm chủ nhiệm kiêm chủ bút .
·         Thiết lập các cơ sở đào tạo tăng tài gồm cấp Trung và Tiểu học tại chùa Báo Quốc Huế, cấp Đại học tại chùa Tây Thiên Huế mà Cụ là vị bảo trợ và giảng sư chính yếu.
·         Xúc tiến thành lập các tỉnh hội, chi hội, khuôn hội Phật giáo khắp nơi tại Trung phần.
Năm 1935 Cụ dời nhà lên ở tại dốc Bến Ngự Huế.
Trong thời gian ở đây, từ cơ sở các Ban đồng ấu Phật Giáo, Cụ thành lập ĐOÀN PHẬT HỌC ĐỨC DỤC và thành lập GIA ĐÌNH PHẬT HÓA  PHỔ TÂM MINH vào năm 1940.
Sau khi GIA ĐÌNH PHẬT HÓA  PHỔ TÂM MINH là gia đình đầu tiên được thành lập, lần lượt nhiều Gia Đình Phật Hóa Phổ khác cũng được thành lập ở nhiều nơi trên toàn quốc.
Lễ vía Thành Đạo mồng 8 tháng 12 năm Mậu Tý nhằm ngày 06 tháng 01 năm 1949 Gia Đình Phật Hóa Phổ làm lễ chính thức thành lập tại chùa Từ Đàm Huế lúc 16 giờ do cố đại lão hòa thượng Thích Tịnh Khiết - Đức Đệ Nhất Tăng Thống chứng minh đại đạo sư.  Sau buổi lễ là lễ gắn huy hiệu Gia Đình Phật Hóa Phổ có đông đủ qúy vị Tăng Gìa tham dự.  Huy hiệu HOA SEN TRẮNG trên nền lục lá mạ do các chị thêu tay được Hòa Thượng chứng minh và qúy Ngài Giáo Phẩm Tăng Già gắn lên đồng phục cho anh chị em.
Chỉ sau 2 năm, Đại Hội Huynh Trưởng đầu tiên của Gia Đình Phật Hóa Phổ toàn quốc được tổ chức vào các ngày 24, 25, 26 tháng 04 năm 1951 quy tụ hơn 50 đại biểu của các tỉnh hội về tham dự. Đại hội này đã quyết định đổi tên Gia Đình Phật Hóa Phổ thành Gia Đình Phật Tử.  Do đó Gia Đình Phật Hóa Phổ Tâm Minh chính là tiền thân đầu tiên của tổ chức GIA ĐÌNH PHẬT TỬ ngày nay. 
Năm 1945 sau cuộc đảo chánh Nhật, Cụ được chánh phủ Trần Trọng Kim mời giữ chức vu Giám đốc Y tế Trung Phần kiêm giám đốc bệnh viện Huế.
Năm 1949 Cụ được mời ra Bắc đề bạt làm Chủ tịch Phong trào vận động Hòa bình thế giới. Cũng từ đó hầu hết thời gian Cụ dành vào công việc dịch thuật Kinh sách như bộ kinh THỦ LĂNG NGHIÊM, Luận Khởi Tín, Bát Thức Tụng, Phật Học Thường Thức,  Phật Tam Kinh.v.v
 Tán thán về công đức của Cụ, ba vị cao tăng trong hàng ngũ lãnh đạo cao cấp của giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất đã phát biểu như sau : 
A.- Thượng tọa Thích Trí Quang đã nói : Trưởng giả Tâm Minh quả là một Phật Tử ngoại hạng.  Cho đến nay, lịch sử Phật giáo miền Trung vẫn là phản ảnh tiểu sử và cuộc đời của Cụ bác sĩ Tâm Minh-LÊ ĐÌNH THÁM.
 B.- Hòa Thượng Thích Minh Châu nguyên Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh Sàigòn đã phát biểu : Điều chúng tôi xác nhận ở đây là Cụ có một công đức rất to lớn đối với Phật Pháp; Cụ có thể xem như là người đầu tiên đã chú ý vấn đề đào tạo một lớp Tăng tài học hiểu Phật Pháp và phục vụ cho Phật Pháp.  Tóm lại tất cả những công lao to lớn mà Cụ bác sĩ Tâm Minh-LÊ ĐÌNH THÁM đã cống hiến cho dân tộc và đạo pháp có thể đúc kết thành 5 điểm như sau : 
1.- Cụ là người đã thiết lập những cơ sở giáo dục cho Chư Tăng như cấp Trung và Tiểu học tại chùa Bảo Quốc Huế, cấp Đại học tại chuà Tây Thiên Huế đã đào  tạo được một số chư Tăng tài ba lỗi lạc gánh vác nhiều nhiệm vụ quan trọng trong Giáo Hội như quý Hoà Thượng Đôn Hậu, Trí Thủ, Mật Hiển, Mật Nguyện, Mật Thể và quý Thượng Toạ Trí Quang, Thiện Hoà, Thiện Hoa, Thiện Siêu, Thiện Minh, Trí Tịnh.v.v
2.- Cụ là người đã đào tạo được một lớp nam nữ cư sĩ và tầng lớp trí thức hiểu biết về Đạo Phật.
3.- Là người đã “Đại Chúng Hoá Đạo Phật”,  thành lập chùa chiền, khuôn giáo hội, niệm Phật đường, đưa Đạo Phật về đến tận từng làng xã, nhờ vậy mà Đạo Phật lan truyền đến mọi tầng lớp dân chúng.
4.- Là người đã phiên dịch Kinh sách, viết bài Kinh Sám Hối “Đệ tử kính lạy” giảng dạy và truyền bá Đạo Phật bằng tiếng quốc ngữ Việt Nam, nhờ vậy mà Cụ đã Việt Nam hoá Đạo Phật , không còn lệ thuộc quá nhiều vào kinh sách chữ Tàu  như trước nữa.
5.- Quan trọng và đáng kể nhất, Cụ là người đầu tiên đã đem Đạo Phật đến với thanh niên trí thức và đồng thời Cụ cũng đã đưa thanh niên trí thức trở về nương tựa và tu học theo Đạo Phật.
 C.- Hòa Thượng Thích Thiện Siêu tổ đình Từ Đàm Huế đã phát biểu : Từ khi biết Đạo, Cụ đã nhất tâm nhất đức sống theo Đạo, học Đạo, hoằng Đạo, đi theo gót chân của bậc tiền sư không một bước nào, một lúc nào ngơi nghỉ. Đọc câu mà Cụ đã đi điếu Hòa Thượng Thích Giác Tiên, bổn sư của mình thì thấy rõ hạnh nguyện của Cụ lớn lao như thế nào :

Chúc Pháp linh truyền, chúc sanh linh độ
Thừa dương di huấn khởi vô nhơn.
Nghĩa là :
Chúc Phật Pháp cần phải truyền bá
Chúc chúng sanh cần phải tế độ
Lời di huấn ấy con đây xin gánh vác.
Trước linh cửu vị bổn sư của mình, Cụ đã phát nguyện gánh vác hoằng dương Chánh Pháp, cứu độ chúng sanh, cho nên từ đó trở đi Cụ luôn luôn đặt hạnh nguyện của mình ở trong Phật Pháp, đem Phật Pháp phổ hóa thế gian.  Cụ từng làm chủ bút tờ Viên Âm, một tờ báo hết sức có gía trị, phát huy Đạo giáo một cách đúng đắn, gây sự hiểu biết đúng đắn cho tất cả mọi người; ngày hôm nay những lời văn, những ý tứ của Cụ vẫn còn là những bài học cho mọi người. Cụ đã biến gia đình của mình thành một đạo tràng luôn luôn có các bậc tăng, ni, các vị cư sĩ tới lui học Đạo, nghe Cụ giảng Pháp.  Vì vậy cho nên đã một thời các niệm Phật đường, các chùa, hội, nơi nào cũng có treo ảnh của Cụ để chiêm ngưỡng, để tỏ lòng tôn kính của mình đối với một bậc đạo trưởng đã khai hóa cho mình.  Như vậy, đối với công cuộc chấn hưng Phật Pháp, Cụ là hàng cư sĩ đi đầu cùng với các bậc cao tăng thạc đức khai hoang phác cỏ để cho mầm giống Phật Pháp được đâm chồi nẩy lộc. Vì vậy mà Phật Pháp được phát huy, nhất là tại miền Trung có quy cũ, có nề nếp như ngày hôm nay.  Nhắc đến công lao của Cụ Tâm Minh thì tất cả những ai đã biết tới Cụ, đã đọc những lời của Cụ luôn luôn có một lòng kính trọng, qúy mến, thương yêu. 
Đó là những công đức vô cùng to lớn và hết sức quý báu mà Cụ đã cống hiến cho Đạo Pháp và dân tộc. 
Ngày 23 tháng 04 Năm 1969 nhằm ngày 7 tháng 3 Kỷ Dậu, Phật lịch 2513, Cụ an nhiên xả bỏ báo thân. 
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.    

Lược sử Gia đình Phật tử Việt Nam

Lược sử Gia đình Phật tử Việt Nam

Đức Phật ra đời vì hạnh phúc của số đông. Đại lễ Phật đản năm Ất Hợi (10/05/1935) do Hội An Nam Phật học tổ chức rất quy mô hoành tráng tại đất Thần kinh. Trong đoàn rước Phật, Ban Tổ chức đã cho tuổi trẻ lần đầu tiên tham gia Phật sự một cách rất dễ thương, trẻ trung và cuốn hút, 52 em nhỏ được đồng phục trong bộ áo mũ "Mã Tiên", vai gắn đèn hoa sen, vừa đi vừa hát điệu Đăng đàn cung "Vui mừng gặp ngày nay mồng 8 tháng tư...". Hình ảnh này đã thôi thúc niềm ưu tư của các bậc trí giả Phật giáo thức thời quan tâm vấn đề tuổi trẻ với Phật giáo.

    Trong Phật giáo có đủ món ăn ngon cho người lớn, có bình sữa ngọt cho trẻ thơ, các vị tiền bối nghĩ như thế nên muốn cho hàng con em tin Phật có được chỗ đứng vững vàng trong Phật giáo, được hưởng hương vị thơm ngon trong giáo lý đức Phật, được sinh hoạt vui chơi trong khung trời Phật giáo, chứ không chỉ hạn hẹp đơn lẻ, biết lẽo đẽo theo mẹ, theo bà lên chùa lễ Phật.

    Ngày 10/08/1938, trong diễn văn khai mạc Đại hội thường niên của Hội An Nam Phật học, bác Chánh Hội trưởng Lê Đình Thám đã dõng dạc tuyên bố: "Không có một thành tựu vững bền nào lại không nhắm đến hàng ngũ thanh thiếu niên, họ là những người tiếp nối chúng ta trong ngày mai...".

    Hai năm sau, mùa thu năm 1940, Đoàn Thanh niên Phật học Đức Dục ra đời với sự bảo trợ của Hội An Nam Phật học và sự hướng dẫn trực tiếp của nhà Phật học: Bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám. Ban đầu Đoàn gồm có các anh: Phạm Hữu Bình (đoàn trưởng), anh Đinh Văn Nam  (đoàn phó), anh Ngô Điền (thư ký), anh Đinh Văn Vinh, anh Ngô Thừa, anh Võ Đình Cường, anh Nguyễn Hữu Quán, anh Nguyễn Khải, anh Lê Kiểm, anh Phạm Quy, anh Hoàng Ngọc Phu, anh Lê Đình Duyên, anh Ưng Hội, anh Tráng Thông, anh Lâm Công Định...

    Đoàn Thanh niên Phật học Đức Dục lúc bấy giờ là tượng trưng cho một đạo Phật rất "mới", rất "trẻ". Đoàn đã tổ chức "Phật học tùng thư" và xuất bản rất nhiều sách Phật giáo, trong đó có các cuốn: "Thanh niên Đức Dục" (của Đinh Văn Nam), "Phật giáo và thanh thiếu niên Đức Dục" (của Phạm Hữu Bình), "Đời vui" (của Ngô Thừa), "Nghĩa chữ Nho" (của Nguyên Hữu Quán), "Ánh đạo vàng" (của Võ Đình Cường)... Những tác phẩm văn hóa này nhằm xây dựng phong trào thanh niên học Phật. Các đoàn viên thanh niên Phật học Đức Dục chia nhau đến các chùa, Niệm Phật đường gom góp các nhóm Đồng ấu lại, tổ chức thành Đội, Đoàn, tập cho các em hát, tụng kinh, làm việc thiện và sống theo các hạnh lành.

    Lễ Phật đản năm 1944 tại đồi Quảng Tế - Huế, các đơn vị thanh niên Phật học, Hướng đạo Phật giáo, Đồng ấu Phật học... họp đại hội và khai sinh tổ chức Gia đình Phật hóa Phổ, tiền thân Gia đình Phật tử ngày nay.

    Bốn Gia đình Phật hóa Phổ đầu tiên được thành lập tại Huế là Gia đình Tâm Minh, Tâm Lạc, Thanh Tịnh và Sum Đoàn do các bác Lê Đình Thám, Phạm Quang Thiện, Tôn Thất Tùng, Nguyễn Hữu Tuân làm Phổ trưởng và các anh trong đoàn thanh niên Phật học Đức Dục phụ trách hướng dẫn sinh hoạt. Gia đình Phật hóa Phổ đã lớn mạnh theo từng bước phát triển của các Khuôn hội, Niệm Phật đường, tỏa ra các tỉnh miền Trung cao nguyên và lan dần đến cả hai miền Nam Bắc.

    Tại Thuận Hóa (Huế) vào những ngày 24, 25, 26 tháng 04 năm 1951 Đại hội Gia đình Phật hóa Phổ họp tại chùa Từ Đàm gồm đại biểu 9 tỉnh miền Trung: Thừa Thiên, Quảng Bình, Quảng Trị, Đà Nẵng, Quảng Nam, Lâm Viên, Bình Thuận, Dran, Đồng Nai Thượng và Hà Nội, Hải Phòng. Từ Đại hội này, danh xưng "GIA ĐÌNH PHẬT TỬ VIỆT NAM" được thay thế cho Gia đình Phật hóa Phổ và một bản Nội quy trình cũng được ra đời từ đây. Anh Võ Đình Cường, Trưởng ban Hướng dẫn Gia đình Phật hóa Phổ Thừa Thiên được cử giữ chức vụ Trưởng ban Hướng dẫn Gia đình Phật tử Tổng hội Trung phần.

    Năm 1953, Hội nghị Gia đình Phật tử lần thứ hai được triệu tập cũng tại Huế, với đầy đủ các đại biểu của 3 miền Trung, Nam, Bắc để soạn thảo chương trình tu học cho các ngành, các cấp, thống nhất hình thức, tổ chức, đồng phục, huy hiệu, phù hiệu... Dư âm của Hội nghị này như một làn gió mát mang hương sắc tinh khiết của vạn đóa sen thơm từ miền Hương Ngự theo dấu chân tiền nhân Nam tiến. Tại Sài Gòn, Ban Hướng dẫn Gia đình Phật tử Nam Việt được thành lập dưới sự bảo hộ của Hội Phật học Nam Việt, Anh Tống Hồ Cầm được Hội cử làm Trưởng ban Hướng dẫn Gia đình Phật tử Nam Việt năm 1954, rồi sau đó như sen mùa Hạ, các Gia đình Phật tử nở rộ: Gia đình Chánh Giác (Chợ Lớn), Gia đình Chánh Minh (Gia Định), Gia đình Chánh Thọ (chùa Vạn Thọ Sài Gòn), Gia đình Chánh Đạt (chùa Từ Nghiêm Sài Gòn), Gia đình Chánh Nguyên (Sài Gòn), Gia đình Chánh Nghiêm (Thủ Đức), Gia đình Chánh An (Thủ Thiêm), Gia đình Chánh Hòa (Cầu Kè), Gia đình Chánh Thiện (Biên Hòa), Gia đình Chánh Tâm, Chánh Đẳng (Cần Thơ), Gia đình Chánh Trí (Vĩnh Long), Gia đình Chánh Định (Bạc Liêu), Gia đình Chánh Tiến (Trà Vinh), Gia đình Chánh Đức (Sa Đéc), Gia đình Chánh Huệ (Trà Ôn), Gia đình Chánh Dung (Long Xuyên), Gia đình Chánh Kiến, Chánh Pháp (Vũng Tàu) và và một số gia đình mới thành lập chưa chính thức. Tại các tỉnh, mỗi Gia đình Phật tử đều có một vị Thầy cố vấn giáo lý, ở Sài Gòn có quý Ngài Thiện Hoa, Thiện Hòa, Thiện Định, Thanh Từ, Trí Hữu, Huyền Vi... làm cố vấn.

    Tại Hà Nội, Hội Việt Nam Phật giáo Bắc phần thành lập thêm Gia đình Phật tử Minh Tâm, sinh hoạt tại chùa Quán Sứ dưới sự hướng dẫn của các anh Nguyễn Văn Nhã, Văn Đình Hy. Anh Nguyễn Văn Nhã sau này là Trưởng ban Hướng dẫn GĐPT Bắc Việt.

    Qua 9 lần đại hội 1951 - 1973, Gia đình Phật tử Việt Nam đã từng bước trưởng thành trong lòng các Giáo hội đương nhiệm, từ 4 Gia đình Phật hóa Phổ đầu tiên tại Huế lên đến 812 Gia đình Phật tử thuộc 48 tỉnh thành tại miền Nam, với 7.200 Huynh Trưởng và 72.600 Đoàn sinh (theo báo cáo của Đại hội năm 1973 tại Đà Nẵng). Gia đình Phật tử đã hoàn chỉnh về tổ chức, có nội quy ổn định, có đường hướng giáo dục khế cơ, có châm ngôn điều luật và cách chào nhau đã hoàn hảo mà mãi cho đến ngày nay vẫn còn giữ nguyên giá trị ban đầu ấy.

    Năm 1970 - 1973, Gia đình Phật tử thành lập Ban Bảo trợ và cựu Huynh Trưởng hoạt động song hành để hỗ trợ cho tổ chức Gia đình Phật tử.

    Trong công cuộc bảo vệ Đạo pháp, Gia đình Phật tử đã không ít máu, nước mắt và cả thân mạng phải hy sinh. Trên hàng Thánh Tử Đạo có đủ các thành phần của Gia đình Phật tử: Gia trưởng Hoàng Thuyết, các Huynh Trưởng Phan Duy Trinh, Phan Gia Ly, Đào Thị Yến Phi, Nguyễn Thị Vân, Đào Thị Tuyết, Nguyễn Đại Thức và các đoàn sinh Đặng Văn Công, Dương Viết Đạt, Nguyễn Thị Yến, Nguyễn Thị Phúc, Lê Thị Kim Anh, Trần Thị Phước Trị, Nguyễn Thị Ngọc Lan, Huyền Tôn Nữ Tuyết Hòa, Quách Thị Trang và rất nhiều Huynh Trưởng, Đoàn sinh Gia đình Phật tử ở miền Nam bị bắt bớ giam cầm, đánh đập đến chết hoặc mang thương tật suốt đời vì lựu đạn a xít; những người làm việc có lương thì bị cách chức, thuyên chuyển, lao lý tù đày, sa thải... Tất cả đã nói lên được lòng trung kiên bảo vệ chánh pháp và lý tưởng Gia đình Phật tử Việt Nam.

    ngày đất nước được thống nhất do hoàn cảnh lúc đó còn nhiều khó khăn, nhân sự phân tán nên sinh hoạt Gia đình Phật tử tại một số nơi có phần khựng lại nếu không muốn nói là bế tắc.

    Trước tình hình đó, những người có trách nhiệm với Gia đình Phật tử đã ngồi lại với nhau để "Tìm cách cho Gia đình Phật tử được sinh hoạt đều đặn và có hiệu quả, phù hợp với tình hình mới của đất nước và của Giáo hội Phật giáo Việt Nam". Sau cuộc họp lịch sử ngày 19/10/1997 tại Thiền viện Vạn Hạnh (TP.HCM), một bản thông báo mang theo 5 chữ ký của: Hòa thượng Thích Minh Châu và 4 Huynh Trưởng cấp Dũng: anh Võ Đình Cường, anh Tống Hồ Cầm, anh Nguyễn Xuân Quyền và anh Nguyễn Châu được gửi đến toàn thể Huynh Trưởng và Đoàn sinh Gia đình Phật tử Việt Nam.

    Nội dung bản Thông báo có 5 điểm (nguyên văn):

"1. Sinh hoạt Gia đình Phật tử nhằm đào luyện Thanh Thiếu Đồng niên thành những Phật tử chân chính, góp phần xây dựng xã hội. Sinh hoạt này, trước đây đã đạt được những thành quả tốt đẹp nay cần phải được tiếp tục phát huy.

2. Từ ngày được thành lập, Gia đình Phật tử luôn luôn sinh hoạt trong khuôn khổ pháp lý của một tổ chức Phật giáo được Nhà nước chấp thuận, như Hội An Nam Phật học, Hội Phật học Nam Việt, Tổng hội Phật giáo Việt Nam, Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất. Nay sinh hoạt của Gia đình Phật tử cần được thực hiện trong khuôn khổ pháp lý của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

3. Một số ít điều trong Nội quy và Quy chế Huynh Trưởng của Gia đình Phật tử cần được tu chỉnh cho phù hợp với Hiến chương của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.

4. Huynh Trưởng và đoàn sinh Gia đình Phật tử cần chung sức chung lòng cùng nhau đẩy mạnh sinh hoạt Gia đình Phật tử để đóng góp vào sự nghiệp chung của Phật giáo và đất nước.

5. Gia đình Phật tử cần tranh thủ để được sự quan tâm giúp đỡ cụ thể của Giáo hội Phật giáo Việt Nam trong các sinh hoạt."

    Cũng trong năm này, Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ IV diễn ra tại Hà Nội, Gia đình Phật tử được chính thức công nhận, ghi vào Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam (Chương V Điều 19, nay là Điều 21).

    Năm 1998, Giáo hội Phật giáo Việt Nam thành lập các Ban Hướng dẫn Phật tử từ Trung ương đến các Tỉnh, Thành. Ngành Cư sĩ Phật tử do Chư Tăng trực tiếp lãnh đạo, ngành Gia đình Phật tử do Huynh Trưởng điều hành theo chủ trương đường lối của Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Lúc này trong thành phần Huynh Trưởng cốt cán của Gia đình Phật tử, một số đã đi xa, một số không tham gia, số còn lại vì tin tưởng vào tiền đồ của Đạo pháp Dân tộc và tính bất biến của tổ chức nên đã tùy duyên "Y giáo phụng hành" để cho Gia đình Phật tử được tồn tại hợp pháp và phát triển đúng mục đích.

    Tại Tổ đình Từ Đàm Huế, ngôi chùa có dấu ấn lịch sử Gia đình Phật tử (1951, 1963), vào những ngày cuối tháng 7 năm 2001 đã diễn ra 3 sự kiện lịch sử trọng đại: Lễ kỷ niệm 50 năm GĐPTVN (1951 - 2001), Hội nghị Huynh Trưởng cấp Tấn để tu chỉnh Nội quy GĐPT cho phù hợp với Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam và luật pháp Nhà nước, khai mạc Trại huấn luyện Huynh Trưởng cấp ba Vạn Hạnh II (2001 - 2005). Sau đó, hàng trăm trại huấn luyện Huynh Trưởng sơ cấp, cấp một, cấp hai được các tỉnh thành liên tục tổ chức để đào tạo lớp Huynh Trưởng trẻ kế thừa.

    Năm 2003 theo đề nghị của hai Huynh Trưởng cấp Dũng Võ Đình Cường, Tống Hồ Cầm, sáng lập viên GĐPTVN, cố vấn Phân ban Hướng dẫn GĐPT Trung ương, Ban Thường trực Hội đồng Trị sự GHPGVN thành lập Hội đồng xét xếp cấp Dũng cho 5 Huynh Trưởng: Nguyễn Thắng Nhu, Nguyễn Đức Châu, Lê Bá Chí, Trần Hạp và Nguyễn Văn Quýnh. Lễ trao cấp hiệu được thực hiện tại Hội nghị kỳ 2 khóa V của Trung ương Giáo hội dưới sự chứng minh của Đại Tăng 2 Hội đồng Chứng minh, Hội đồng Trị sự và 46 tỉnh thành trong cả nước, đánh dấu một bước trưởng thành của GĐPT trong lòng GHPGVN.

    Cuối tháng 07 năm 2005, Trại huấn luyện Huynh Trưởng cấp ba Vạn Hạnh II khai khóa năm 2001 đã tổ chức trọng thể Lễ bế mạc tại trại trường chùa Trúc Lâm Huế, dưới sự chứng minh của Chư Tôn đức Ban Thường trực Hội đồng Trị sự GHPGVN, Ban Trị sự Phật giáo tỉnh Thừa Thiên Huế và các tỉnh thành. 268/290 Huynh Trưởng cấp Tín thuộc 17 tỉnh thành sau 4 năm học tập, vượt qua 4 kỳ khảo sát (2001 - 2005) đã được cấp Giấy Chứng nhận hoàn thành chương trình bậc Lực - Trại Vạn Hạnh II. Đây là trại huấn luyện Huynh Trưởng cấp cao nhất của GĐPT (đào tạo Huynh Trưởng hướng dẫn cấp tỉnh thành) được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1973.

    Năm 2006 Hội nghị Đại biểu Huynh Trưởng GĐPTVN họp tại thành phố Hồ Chí Minh để tu chỉnh nội dung chương trình tu học của GĐPT, khai khóa học Huynh Trưởng bậc Lực - Trại Vạn Hạnh III (2006 - 2010) và trao huy hiệu cấp Tấn cho 94 Huynh Trưởng đủ điều kiện.

    Năm 2007, Trại họp bạn ngành Thiếu toàn quốc sau 47 năm chờ đợi đã được tổ chức quy mô hoành tráng tại chùa Linh Ứng - Bãi Bụt - Sơn Trà - Đà Nẵng.

    Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ VI, nhiệm kỳ 2007 - 2012 tại Hà Nội công nhận Trưởng ngành Gia đình Phật tử là Ủy viên Hội đồng Trị sự GHPGVN, một lần nữa xác định vị trí của GĐPT trong tổ chức GHPGVN.

    Gần 60 năm qua, theo định luật vô thường, tổ chức Gia đình Phật tử cũng có thịnh suy, có ly hợp. Nhưng trong cái biến thiên vần vũ ấy, Gia đình Phật tử vẫn luôn luôn khẳng định mình để tồn tại và vươn lên trong mọi hoàn cảnh; thuận duyên cũng không tự mãn, buôn lung; nghịch duyên cũng không nản lòng oán thán. Đã biết Gia đình Phật tử hình thành trong giai đoạn đất nước còn điêu linh, nền tín ngưỡng dân tộc đang bị kỳ thị, thế mà quý Ngài lãnh đạo đã tìm ra được cái "thịnh" trong cái "suy". Gia đình Phật tử hôm nay vẫn giữ cái "thịnh" của mình, đó là cái bất biến, là đường hướng giáo dục, chức năng giáo dục. Từ đường hướng giáo dục ấy, Gia đình Phật tử đã đào tạo một đội ngũ huynh trưởng trong sáng, nhiệt tâm, là những người đã trọn đời sống đúng theo chánh pháp và phụng sự chánh pháp. Cao quý hơn nữa, GĐPT cũng đã nâng cánh cho bao Huynh Trưởng và đoàn sinh ưu tú thành những vị hảo tâm xuất gia.

    Gia đình Phật tử đã có những cống hiến đối với Đạo pháp và Dân tộc; góp phần giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, nền luân lý đạo đức xã hội. Đội ngũ Huynh Trưởng áo lam đã sinh hoạt khắp nơi, từ thành thị đến thôn quê, từ miền biển lên tận biên giới Tổ quốc, xa xôi hẻo lánh để hướng dẫn, xây dựng đời sống đạo đức cho con em thành những con ngoan trò giỏi, thành những Phật tử chân chính, những công dân mẫu mực.

    Ngày nay, đất nước hòa bình độc lập, tự do tín ngưỡng được tôn trọng, Phật giáo Việt Nam đang trên đà phát triển, GĐPT cũng đã sinh hoạt ổn định khắp các tỉnh thành phía Nam và đang phát triển ra các tỉnh thành phía Bắc theo chỉ đạo của Trung ương Giáo hội. 

Phân ban Hướng dẫn GĐPT TW GHPGVN

 
GDPT An Linh | viết bởi Lão Ngông